Không nên bỏ công ty hợp danh
(10/1/2014) Ban soạn thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) dự kiến sẽ bỏ loại hình công ty hợp danh. Trên thực tế, dù không có nhiều công ty được thành lập theo hình thức hợp danh nhưng vẫn có những công ty hợp danh trong lĩnh vực kiểm toán, khám chữa bệnh, tư vấn thiết kế... đang hoạt động có hiệu quả.
| Công ty hợp danh dù ít vẫn được hình thành trên thực tế |
Quy định của Luật Doanh nghiệp đã tạo ra một doanh nghiệp “lưỡng cực”. Các thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình, còn các thành viên góp vốn thì chịu trách nhiệm hữu hạn, tức là trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Tuy nhiên, cần nghiên cứu để sửa đổi khung pháp lý cho loại hình công ty hợp danh. Điều 130 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn; thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Quy định nêu trên đã tạo ra một doanh nghiệp “lưỡng cực”. Các thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình, còn các thành viên góp vốn thì chịu trách nhiệm hữu hạn, tức là trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Hơn nữa, Tiết c, Khoản 2 Điều 140 Luật Doanh nghiệp năm 2005 lại quy định một hạn chế quan trọng với thành viên góp vốn như sau: Không được tham gia quản lý công ty, không được tiến hành công việc kinh doanh nhân danh công ty.
Với quy định này, rất ít, nếu không nói là không hề có thành viên góp vốn trong công ty hợp danh. Bởi, khi góp vốn vào công ty hợp danh, người góp vốn sẽ chịu rủi ro cao hơn nhiều khi cho vay hoặc gửi tiền vào tiết kiệm. Hơn nữa, thành viên góp vốn không được quản lý công ty do đó họ sẽ chịu rủi ro rất lớn. Nếu các thành viên hợp danh hoạt động không có hiệu quả, người góp vốn chẳng những không thu được lãi mà có thể bị mất vốn góp mà không thể quy trách nhiệm cho ai.
Từ những phân tích trên, mặc dù không nên bỏ loại hình công ty hợp danh nhưng cần nghiên cứu, quy định lại, công ty hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn và không có những thành viên góp vốn. Quy định như vậy cũng phù hợp với thông lệ quốc tế hiện nay.
Luật gia Vũ Xuân Tiền - Báo Công Thương
